HỘI THẢO KHOA HỌC KHOA TÀI CHÍNH CÔNG CHỦ ĐỀ QUẢN LÝ THUẾ 14/11/2021

Tiếp nối chuỗi hoạt động Hội thảo khoa học định kỳ cấp khoa, ngày 01.11.2021, Khoa Tài chính công - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) đã tổ chức Hội thảo khoa học để chia sẻ về chủ đề nghiên cứu về Quản lý Thuế. Với sự trình bày của Diễn giả: Báo cáo viên trong Bộ môn Thuế gồm: TS Lê Quang Cường, TS. Trần Trung Kiến, và phần nộp bài tham luận không trình bày từ PSG.TS Nguyễn Ngọc Hùng, TS. Nguyễn Kim Quyến, ThS. Đặng Thị Bạch Vân.

Trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, Khoa tổ chức buổi Hội thảo theo hình thức trực tuyến. Buổi báo cáo khoa học nhận được nhiều sự quan tâm chia sẽ của các giảng viên khoa Tài chính công và đa dạng khách mời tham gia.

Mở đầu là bài báo cáo “Đảm bảo tính tương thích giữa các quy phạm pháp luật về Thuế và các quy phạm pháp luật khác” của diễn giả TS. Lê Quang Cường

Tóm tắt bài tham luận: Các quy phạm pháp luật về thuế thường xuyên được bổ sung, sửa đổi nhiều hơn và nhanh hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật khác trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam. Việc điều chỉnh các VBPQ về thuế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung này chưa hoàn toàn đảm bảo được tính tương thích giữa các quy phạm pháp luật về thuế và các quy phạm pháp luật khác trong hệ thống VBPQ của Việt Nam. Hệ thống pháp luật bị coi là thiếu tính tương thích sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến tính thực tiễn và tính khả thi, thiếu sự minh bạch và không đi vào cuộc sống xuất phát từ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn giữa các VBPQ chung và các VBPQ chuyên ngành, giữa các văn bản có cùng thứ bậc hoặc khác thứ bậc pháp lý. Nguyên tắc đảm bảo tính tương thích giữa các văn bản quy phạm pháp luật là một trong những nguyên tắc tối cần thiết phải tuân thủ trong quá trình xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của một quốc gia. Trường hợp điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về thuế nhằm đảm bảo tính tương thích với các văn bản quy phạm pháp luật khác cũng không ngoại lệ.

Nối tiếp là bài báo cáo “Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI” do tác giả TS. Trần Trung Kiên trình bày.

Tóm lược bài tham luận: Bài viết hướng đến lược khảo lý thuyết và thiết lập cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất xúc tác quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp FDI chưa thật sự hiệu quả tại nhiều quốc gia. Với phạm vi hoạt động toàn cầu và mạng lưới các bên liên kết, các chiến lược tránh thuế tinh vi một số doanh nghiệp FDI đã khai thác các lỗ hổng và sự không phù hợp trong chính sách thuế ở các quốc gia để trục lợi về thuế. Vì vậy, việc thiết lập cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI để làm nền tảng cho các phân tích thực trạng tại Việt Nam là điều cần thiết.

 

Ngoài ra, buổi hội thảo còn nhận được 3 bài tham luận: Phân tích xu hướng ứng dụng công nghệ trong các vấn đề liên quan đến thuế - đề xuất chính sách cho Việt Nam - Ths. Đặng Thị Bạch Vân; Hành vi dịch chuyển lợi nhuận gây xói mòn cơ sở thuế qua công cụ chi phí lãi vay của công ty đa quốc gia và hành động của Việt Nam - TS. Nguyễn Kim Quyến; Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch covid 19 ở Việt Nam - PGS. TS Nguyễn Ngọc Hùng.

Tóm lược bài tham luận Phân tích xu hướng ứng dụng công nghệ trong các vấn đề liên quan đến thuế - đề xuất chính sách cho Việt Nam - Ths. Đặng Thị Bạch Vân:  Bài viết này phân tích những yêu cầu thiết thực và cấp bách của việc ứng dụng và tích hợp công nghệ một cách hiệu quả vào trong các vấn đề liên quan đến thuế ở hai phương diện: quản lý thuế (cơ quan thuế) và quản trị thuế1 (công ty). Sử dụng cách tiếp cận phân tích chính sách, bên cạnh phân tích sự trỗi dậy của công nghệ trong mọi lĩnh vực của kinh tế và đời sống, bài viết tập trung xác định sự năng động của khu vực doanh nghiệp trong việc ứng dụng công nghệ vào trong công tác quản trị thuế (hoặc tuân thủ thuế). Sau đó, bài viết phân tích áp lực đổi mới trong công tác quản lý thuế theo hướng dựa trên nền tảng công nghệ đối với các cơ quan thuế. Cụ thể, môi trường thuế - công nghệ và năng lực quản lý thuế dựa trên công nghệ của Việt Nam – một quốc gia mới nổi được rà soát và phân tích. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực quản lý thuế của cơ quan thuế Việt Nam, trước tiên là tích hợp đào tạo các chuyên gia thuế công nghệ.

Tóm lược bài tham luận Hành vi dịch chuyển lợi nhuận gây xói mòn cơ sở thuế qua công cụ chi phí lãi vay của công ty đa quốc gia và hành động của Việt Nam - TS. Nguyễn Kim Quyến: bên cạnh những hưởng lợi từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nước đang phát triển phải đang đối mặt với tình trạng các công ty đa quốc gia lợi dụng lỗ hổng thuế giữa các nước để tiến hành dịch chuyển lợi nhuận giữa các quốc gia nhằm tránh thuế. Bài viết này tập trung phân tích hành vi sử dụng công cụ chi phí lãi vay để dịch chuyển lợi nhuận của công ty đa quốc gia và hành động của Việt Nam để hạn chế hành vi này.

Tóm lược bài tham luận Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch covid 19 ở Việt Nam - PGS. TS Nguyễn Ngọc Hùng:  Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dần dần trở thành vấn đề không còn xa lạ đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Khi sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng lớn, bên cạnh đó là sự kỳ vọng của người tiêu dùng ngày càng khắt khe hơn không chỉ về chất lượng sản phẩm mà còn về nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với môi trường, người lao động, cộng
đồng. Kể từ khi đại dịch covid 19 xuất hiện ở Việt Nam đã có nhiều doanh nghiệp đã đồng hành cùng Chính phủ tham gia công tác phòng chống dịch bệnh rất đáng khích lệ và tuyên dương. Bài viết nhằm phản ánh thực trạng các hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nêu lên những hạn chế và đưa ra những kiến nghị về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Buổi hội thảo nhận được nhiều góp ý, phản biện dành cho các bài báo cáo tạo nên một không khí trao đổi khoa học rất thẳng thắng và thoải mái và cũng có nhiều gợi mở cho những chủ để tiếp theo trong tình hình bình thường mới.